Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Phòng ngừa lao phổi

Bệnh lao có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng phác đồ và đủ thời gian.

Ảnh: flickr.com
Tuy nhiên, phòng ngừa bệnh vẫn là cách tốt nhất để tránh bị lao phổi tấn công. Dưới đây là những lưu ý quan trọng khi chăm sóc và điều trị bệnh lao phổi - theo các chuyên gia y tế thế giới.
• Để phòng ngừa bệnh lao hiệu quả nhất, bạn nên tiêm chủng vắc-xin BCG cho con sau khi sinh.
Ảnh: flickr.com
• Đối với những người bị tiểu đường, suy dinh dưỡng, người có HIV... rất dễ bị bệnh lao, do đó phải thường xuyên khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh lao sớm. Các triệu chứng thường gặp của bệnh lao gồm ho khạc, ho ra máu, đau ngực, khó thở, sốt trên 2 tuần, sốt nhẹ về chiều, sút cân…

Ảnh: flickr.com
• Hãy sử dụng khẩu trang thường xuyên nếu bạn cảm thấy môi trường xung quanh bị ô nhiễm không khí và nhiều bụi bẩn. Đối với những ai khỏe mạnh, khi tiếp xúc với người bệnh cũng cần đeo khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng ngay sau khi khám bệnh.
Ảnh: flickr.com
• Nên giữ gìn vệ sinh môi trường thật tốt, nhà cửa cần thoáng mát, sạch sẽ. Tuyệt đối, bệnh nhân không được khạc nhổ bừa bãi.
• Bạn cũng nên phơi quần áo, chăn chiếu, gối của bệnh nhân dưới ánh nắng mặt trời. Đây là những biện pháp đơn giản nhất để tiêu diệt vi khuẩn lao.
• Bệnh lao thường “viếng thăm” các bệnh nhân khi hệ miễn dịch bị suy yếu. Do đó, bạn cần thực hiện lối sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể thao, ăn uống đủ chất dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý, tránh hút thuốc lá, uống rượu và phải biết cách tự chăm sóc bản thân để bệnh lao không lây nhiễm qua những người xung quanh.

Ảnh: flickr.com


7 dấu hiệu nhiễm HIV ban đầu ở nam giới

Khi một người nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), người ấy sẽ dương tính với HIV và HIV sẽ gây ra AIDS. Số bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV đang tăng cao.


Hội chứng đặc biệt này rất nghiêm trọng bởi vì nó vô hiệu hóa dần dần cơ thể của bệnh nhân trong việc chống lại bất kỳ loại bệnh tật nào. Hãy chú ý đến các triệu chứng ban đầu của hội chứng này để việc điều trị có thể được bắt đầu sớm.
Dưới đây là một vài triệu chứng nhiễm HIV ban đầu phổ biến ở nam giới. Bạn nên chú ý kỹ đến những dấu hiệu này nếu thấy mình có những biểu hiện tương tự và đến gặp bác sĩ ngay.
Bị sốt từ nhẹ đến vừa
Bị sốt là một trong những dấu hiệu sớm nhất và cũng phổ biến nhất của việc nhiễm HIV ở đàn ông. Cơn sốt có thể đến sớm ngay sau khi đã nhiễm HIV. Thông thường, cơn sốt thường là nhẹ cho đến trung bình.
Nhiệt độ thường vượt quá 38 độ C. Bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng sốt như ra mồ hôi và ớn lạnh. Triệu chứng sốt này có thể tiếp tục trong gần 2 tuần trước khi hết.
Nhức đầu
Nhìn chung, đàn ông nhiễm HIV sẽ có những giai đoạn nhức đầu thường xuyên kèm với cơn sốt. Cường độ của những cơn nhức đầu này có thể xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cơn sốt, từ nhẹ đến vừa.
Nhức đầu do HIV có thể trông tương tự như những cơn nhức đầu thông thường khác. Bạn sẽ triệt tiêu được cơn nhức đầu bằng sự trợ giúp của aspirin, ibuprofen hoặc acetaminophen.
Giảm sức chịu đựng và mệt mỏi không rõ nguyên do
Nhiều người đàn ông nhiễm HIV có thể trải qua những thay đổi không rõ nguyên do trong các mức năng lượng. Họ có thể sẽ thấy mức năng lượng hoặc sức chịu đựng giảm, dẫn đến mệt mỏi. Ngay cả với một ngày làm việc bình thường cũng có thể làm cho họ cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức.
Phát ban trên da
Một triệu chứng HIV sớm và cũng quan trọng ở người đàn ông bị nhiễm HIV có thể có là phát ban trên da, đặc biệt là ở vùng ngực. Một số bất thường khác trên da cũng có thể được nhận thấy trong giai đoạn đầu của việc nhiễm bệnh.
Phát ban trên da xuất hiện giống như một miếng vá và có thể nhận thấy rõ ràng do nó sẫm hơn so với những vùng da xung quanh. Một số đàn ông cũng có thể phát triển việc phát ban trên da đi kèm với ngứa và cảm giác nóng rát. Phát ban da thường biến mất trong vòng một vài tuần.
 7 dấu hiệu nhiễm HIV ban đầu ở nam giới
 Sưng hạch bạch huyết
Một dấu hiệu nhiễm HIV ban đầu và cũng rất phổ biến ở nam giới là số lượng các tuyến bạch huyết bị sưng. Viêm hoặc sưng có thể xảy ra trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết.
Vùng bị nhiễm thường thấy là cổ và nách. Đa phần, việc viêm hoặc sưng sẽ không gây bất kỳ những khó chịu và đau đớn gì, ngay cả khi bạn chạm vào những hạch bạch huyết đó. Thế nên, thường họ hay bị nhầm lẫn với những bệnh khác.
Đau cơ và khớp
Một triệu chứng nhiễm HIV khác phổ biến ở nam giới là đau ở cơ và khớp. Ngoài ra, cũng có thể trải nghiệm đau nhức cơ thể và theo thời gian có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến công việc hàng ngày. Người bị nhiễm cần phải nghỉ ngơi giữa quá trình làm việc.
Đau họng
Đàn ông bị nhiễm HIV cũng có khả năng bị đau họng, như là một dấu hiệu của triệu chứng HIV ban đầu. Bạn nên xử lý nó đúng cách nếu không nó sẽ gây cho bạn sự khó chịu vô cùng. Nó cũng có thể gây khó khăn cho bạn khi nuốt thức ăn. Một số người có thể bị ảnh hưởng bởi vấn đề chán ăn.


Cách phòng tránh lây nhiễm HIV khi bị vật nhọn đâm

Cùng tìm hiểu những kiến thức và phương pháp sơ cứu nhằm ngăn chặn virus HIV xâm nhập cơ thể nếu vô tình bị kim tiêm hay vật nhọn đâm phải.

Như đã đưa tin, dư luận gần đây đang xôn xao về sự việc đáng tiếc xảy ra tại trường THCS Xuân Thiên, Thanh Hóa. Theo đó, chỉ vì tham gia vào trò đùa nghịch đâm vật nhọn vào mọi người mà hiện nay, đã có trường hợp học sinh bịnhiễm virus HIV bị phát hiện.

Nguy hiểm hơn, có khoảng tới 40 em học sinh là nạn nhân của trò đùa này và tất cả đều rất hoang mang lo sợ lây nhiễm HIV.

Ngôi trường nơi xảy ra sự việc.
Sự việc gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng mà những trò đùa dại dột có thể mang lại, nhất là đối với giới trẻ.

Đồng thời, hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cũng cần tự trang bị những kiến thức cần thiết cho bản thân, nhằm phòng tránh việc lây nhiễm HIV khi bị thương bởi những vết đâm của vật nhọn…


Đầu tiên chúng ta cần biết rằng, để phòng tránh lây nhiễm HIV, cần phải hiểu được khái niệm phơi nhiễm (exposure). Ở góc độ đơn giản, đó là tình trạng xảy ra khi bạn bị vật nhọn (thường là kim tiêm) dính máu của người nhiễm HIV đâm phải và gây ra vết thương chảy máu.

Khi đó, bạn đã tiếp xúc với tác nhân gây bệnh (virus HIV) và có nguy cơ lây nhiễm ở một tỉ lệ nhất định. Nói cách khác, khi phơi nhiễm thì chưa thể khẳng định chắc chắn một người mắc HIV hay không.

Do đó, trong trường hợp bị vật nhọn đâm chảy máu, cần tiến hành sơ cứu tại chỗ ngay lập tức. Nhiều người thường có thói quen nặn máu với suy nghĩ làm vậy để cho máu độc chảy ra ngoài, song thực tế điều này rất nguy hiểm.

Việc nặn máu khiến vết thương dễ sưng tấy dẫn đến viêm nhiễm, tăng nguy cơ xâm nhập cơ thể của virus. Do đó, không nên nặn máu.

Thay vào đó, cần rửa vết thương dưới nước lạnh trong vài phút nhằm rửa sạch vết thương, khiến máu chảy ra nhiều hơn và hạn chế virus xâm nhập vào máu.


Khi rửa cần chú ý không chà xát mạnh lên vết thương, sau khi rửa phải lau khô bằng bông, gạc y tế rồi băng lại.



Công đoạn sơ cứu tiếp theo đó là rửa sạch các bộ phận có nguy cơ dính máu do vật nhọn hoặc do quá trình rửa vết thương vô tình gây ra (mặt, chân, tay…). Bạn cũng nên thay quần áo khác, rửa mắt, mũi bằng các dung dịch sát trùng trong vài phút.

Sau khi hoàn thành việc sơ cứu, bạn cần khẩn trương di chuyển tới các trung tâm y tế. Tại đây, cần tường thuật đầy đủ mọi chi tiết về việc bị vật nhọn đâm để các bác sĩ có biện pháp hỗ trợ hợp lý.

Thông thường, các bác sĩ sẽ tiêm ngay cho bệnh nhân thuốc ngăn ngừa uốn ván căn cứ theo tiền sử tiêm chủng trong quá khứ.

Trong trường hợp nghi ngờ lây nhiễm HIV, bạn sẽ được bác sĩ cho sử dụng ngay thuốc PEP. Đây là loại thuốc kháng virus HIV có tác dụng rất tốt, nhất là trong vài giờ đầu tiên sau khi phơi nhiễm (hiệu quả bảo vệ lên đến 90 - 95%) và kéo dài trong khoảng 72 giờ sau đó.

Ngoài ra, cũng cần dự phòng các trường hợp lây nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C. Trong thực tế, các nhà khoa học đã chứng minh rằng, tỉ lệ lây nhiễm hai loại virus này là rất cao (viêm gan B lên tới 30%, viêm gan C là 10%) trong khi lây nhiễm HIV chỉ là 0,03%.

Do đó, không nên quá hoảng loạn, lo sợ bị mắc phải căn bệnh thế kỉ bởi khả năng này là không cao.

Người bệnh sau khi thực hiện tất cả các biện pháp dự phòng trên cần tiếp tục được theo dõi y tế thường xuyên.
Nếu được bác sĩ chỉ định, bệnh nhân sẽ phải uống thuốc kháng virus ARV đủ 28 ngày, làm các xét nghiệm HIV sau một tháng, 3 tháng và 6 tháng để khẳng định chắc chắn mình có bị lây nhiễm hay không.

Tạm kết:

Hãy hành động ngay chứ không nên để tới khi mọi chuyện trở nên quá muộn. Muốn phòng tránh HIV, hãy xây dựng nếp sống lành mạnh, không sử dụng ma túy và chung bơm kim tiêm với người khác, quan hệ tình dục an toàn và nói không với các tệ nạn xã hội khác.

Ai dễ mắc bệnh Rubella?

Bệnh Rubella là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Rubella gây ra. Phần lớn bệnh thường ở mức độ nhẹ, thường gặp ở trẻ em và thanh niên.

Bệnh Rubella gây tác hại nguy hiểm đến sức khỏe của bà mẹ cũng như thai nhi nếu bà mẹ bị nhiễm vi rút trong thời kỳ mang thai.

Bệnh Rubella lây truyền qua đường nào?

Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do ho, hắt hơi, tiếp xúc gần với người bị nhiễm hoặc dịch tiết mũi họng. Giai đoạn lây nhiễm xảy ra từ 7 ngày trước cho đến 7 ngày sau khi phát ban. Cũng như Sởi, vi rút Rubella có khả năng lây lan cao nên có thể gây dịch lớn cho những cộng đồng không có miễn dịch với vi rút Rubella.  

Có trường hợp người lành mang vi rút Rubella không?

- Khi bị nhiễm vi rút Rubella sẽ mắc bệnh Rubella nếu chưa có miễn dịch với vi rút Rubella. Không có trường hợp người lành mang vi rút.

- Những người đã có miễn dịch với vi rút Rubella (do đã từng mắc bệnh Rubella hoặc đã tiêm vắc xin Rubella trước đó) hầu hết không bị mắc bệnh nữa.
Ảnh minh họa
Những ai có nguy cơ mắc bệnh Rubella?

- Tất cả những người chưa có miễn dịch với Rubella đều có nguy cơ mắc bệnh. Sống ở nơi đông dân cư là yếu tố thuận lợi làm tăng nguy cơ mắc loại bệnh lây lan theo đường hô hấp này.

- Tại Việt Nam, nhóm người có nguy cơ mắc Rubella cao là trẻ em, thiếu niên và thanh niên. Do vậy, các nhóm đối tượng này cần được tiêm chủng vắc xin Rubella để phòng bệnh. 

Bệnh Rubella có biểu hiện như thế nào?
Bệnh thường có biểu hiện lâm sàng nhẹ. Biểu hiện của bệnh bao gồm: sốt nhẹ, phát ban và viêm long nhẹ đường hô hấp, nổi hạch vùng chẩm, sau tai và cổ. Ở người lớn có thể có sưng đau khớp. Tuy nhiên, có tới 50% số trường hợp có biểu hiện lâm sàng không điển hình làm cho bệnh nhân dễ bị nhầm tưởng là bệnh khác.

Tại sao bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ có thai?

Bệnh Rubella rất nguy hiểm đối với phụ nữ có thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ là giai đoạn hình thành các bộ phận của thai nhi. Vi rút có thể qua hàng rào nhau thai, xâm nhập vào bào thai và tác động tới quá trình phát triển của bào thai. Có khoảng một nửa số trường hợp mắc bệnh không có dấu hiệu lâm sàng điển hình nên nhiều phụ nữ có thai mắc Rubella không được phát hiện, gây ra nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với người mẹ và thai nhi. 

- Nhiễm Rubella trong thời kỳ đầu khi mang thai có thể gây ra sảy thai, thai chết lưu hoặc đẻ non. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ này có nguy cơ cao mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với nhiều dị tật nghiêm trọng như dị tật tim, điếc, đục thủy tinh thể, chậm phát triển… Ngoài ra, trẻ có thể mắc đái tháo đường, vàng da, xuất huyết, xương thủy tinh, viêm não màng não, viêm phổi, nhẹ cân, sinh non... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe giống nòi. Một số trường hợp trẻ tử vong do hậu quả của hội chứng Rubella bẩm sinh.

- Hội chứng Rubella bẩm sinh có thể gặp ở 70-90% trẻ sinh ra từ bà mẹ bị nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu mang  thai. 
Tình hình bệnh Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh ở Việt Nam

- Năm 2011 trên toàn quốc ghi nhận trên 7.200 ca mắc Rubella tại 59 tỉnh/TP, tập trung ở nhóm trẻ em, thanh niên và phụ nữ tuổi sinh đẻ. Trên thực tế số mắc này còn cao hơn nhiều lần do nhiều trường hợp có biểu hiện nhẹ không đến cơ sở y tế.

- Trong các năm 2011-2012, tại các BV Nhi Trung ương, Nhi đồng 1, Nhi đồng 2 đã ghi nhận hơn 300 ca mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với các dị tật bẩm sinh. Trong đó 90% mắc tim bẩm sinh với các dị tật phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của trẻ, 45,3% đục thủy tinh thể; 37,7% lách to; 15,3% vàng da nhân;
11,3% trẻ có kích thước đầu nhỏ; 12,3% chậm phát triển, 3,7% có các tổn thương não phức tạp (bại não, xuất hiện giãn não thất, xuất huyết não); 1% viêm não màng não và các hậu quả khác như nhẹ cân khi sinh (73,2%), đẻ non (33,5%), suy dinh dưỡng bào thai, tổn thương gan. Hơn 80% các trường hợp này mắc từ 2 dị tật trở lên. 

- Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam có từ 1.267-6.145 ca mắc hội chứng Rubella bẩm sinh.

Làm gì khi bị nghi nhiễm Rubella?

- Khi bị nghi nhiễm Rubella cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán. Đối với trường hợp bệnh nặng lên hoặc có dấu hiệu biến chứng phải điều trị và cách ly tại bệnh viện.

- Cách ly bệnh nhân trong vòng 7 ngày kể từ khi phát ban. Trường hợp bệnh nhẹ cách ly tại hộ gia đình (nghỉ học, nghỉ làm, không tham gia các hoạt động tập thể, tập trung đông người) để tránh lây nhiễm cho những người xung quanh. Trong thời gian cách ly, bệnh nhân phải đeo khẩu trang y tế. Tẩy trùng, thông thoáng nơi ở, làm việc. Sử dụng biện pháp bảo vệ cá nhân như dùng khẩu trang, hóa chất sát trùng...

Làm thế nào để phòng bệnh Rubella?

Bệnh Rubella là bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ động tiêm vắc xin Rubella là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh.

Làm thế nào để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh?
- Tiêm vắc xin Rubella là biện pháp hiệu quả nhất để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh. 

- Phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần hạn chế tiếp xúc với các bệnh nhân có sốt, phát ban và trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh. 

- Phụ nữ có thai, đặc biệt có thai trong những tháng đầu nếu bị sốt, phát ban nên đến các cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm, chẩn đoán, tư vấn kịp thời.


Người lớn dễ chết vì bệnh sốt xuất huyết hơn trẻ em

Người lớn dễ chết vì bệnh sốt xuất huyết hơn trẻ em
Sốt xuất huyết dengue (dengue hemorrhagic fever, DHF hay Sốt dengue (dengue fever, DF, đọc là đăng-gi) , tại Việt Nam thường được gọi chung là bệnh sốt xuất huyết, có biểu hiện nặng nhất của bệnh là hội chứng sốc dengue (dengue shock syndrome, DSS) được gây ra do Dengue virus (chi Flavivirus, họ Flaviviridae).
Ngwowif lonNgười lớn dễ chết vì bệnh sốt xuát huyết hơn trẻ em.
Virus này có 4 chủng huyết thanh khác nhau là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Bệnh nhân nhiễm với chủng virus nào thì chỉ có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời với chủng virus đó mà thôi.Chính vì vậy mà những người sống trong vùng lưu hành dịch dengue có thể mắc bệnh sốt xuất huyết nhiều hơn một lần trong đời.
Theo BS Trần Tịnh Hiền, PGĐ BV bệnh nhiệt đới TP HCM cho biết, khi nhiễm bệnh, người lớn dễ bị xuất huyết ào ạt, bởi độ thấm thành bụng kém hơn trẻ em. Do đó, nguy cơ tử vong ở người lớn cũng cao hơn trẻ em.
Tiêu chuẩn điều trị sốt xuất huyết tại nhà
Tất cả những bệnh nhân Sốt dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh mạch.
Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống.
Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảy máu quan trọng.
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn khi bị sốt xuất huyết (12 - 24 giờ)
Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch.
Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống.
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn.
Tất cả bệnh nhân độ III.
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài khi bị sốt xuất huyết (> 24 giờ)
Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứng điều trị bù dịch.
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thành bệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…).
Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng.
Tất cả bệnh nhân Độ IV.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons