
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015
Cảnh báo: Bệnh nguy hiểm ai cũng mắc khi làm "chuyện ấy"
- Giang mai (syphilis) là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum (xoắn khuẩn giang mai) gây ra. Đường lây truyền của bệnh giang mai hầu như luôn luôn là qua đường tình dục.
Người bị bệnh giang mai có thể gặp tổn thương tại tất cả các cơ quan trong cơ thể như viêm loét cơ quan sinh dục, phát ban ngoài ra, đau nhức cơ xương, thậm chí gây ảnh hưởng đến nội tạng như gan, tim mạch, thần kinh…
Nếu không được điều trị, bệnh giang mai có thể gây nguy hiểm cho các bộ phận bên trong cơ thể, tổn thương thần kinh, mất trí nhớ hoặc tử vong. Kiểm tra bằng cách xét nghiệm máu.
Bệnh lậu là một trong những loại bệnh lây lan qua đường tình dục khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Bệnh lậu rất dễ lây truyền, gây tổn hại đến sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng của người bệnh. Nếu không được chữa trị kịp thời, các triệu chứng bệnh lậu sẽ càng trở nên nặng hơn.
Bệnh lậu có thể lây lan qua máu đến các khớp xương, gây ra các triệu chứng giống như viêm khớp. Kiểm tra bằng cách kiểm tra nước tiểu hoặc xét nghiệm các mẫu dịch.
Biểu hiện của bệnh sùi mào gà
Bệnh mụn rộp sinh dục do một loại virus herpes gây ra. Loại virus này có khả năng lây truyền mạnh và sống trong cơ thể người bị nhiễm suốt đời. Nếu một người bị mụn rộp sinh dục lan trên mặt thì các biểu hiện cũng giống như bị bệnh ở “vùng kín”, thường là mụn nước phát triển thành chùm, tạo thành vết loét gây nóng, bỏng, rát, nhói…
Viêm âm đạo là bệnh thường gặp ở hầu hết phụ nữ, bệnh gây ảnh hưởng tới sức khỏe phụ nữ, nhất là chức năng về sinh sản. Viêm âm đạo nếu không được điều trị gây những tổn thương mạn tính kéo dài nhiều năm tại âm đạo và cổ tử cung có thể tạo điều kiện cho ung thư phát sinh và phát triển.
Triệu chứng của bệnh viêm âm đạo đôi khi rõ ràng nhưng có lúc lại không cụ thể và có những diễn biến âm thầm. Điều này khiến cho nhiều chị em chủ quan mà không điều trị kịp thời dẫn tới những biến chứng không mong muốn.
Herpes sinh dục. Herpes sinh dục có thể gây nhiễm trùng có khả năng gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Kiểm tra bằng cách khám lâm sàng, xét nghiệm máu hoặc kiểm tra mẫu dịch (dịch âm đạo).
HIV. Phải mất 10 năm thì bệnh HIV phát triển thành AIDS toàn diện – nhưng điều đó không có nghĩa là trong từng đó năm bạn không cần kiểm tra. Kiểm tra sức khỏe là điều cần thiết để biết bệnh HIV có xu hướng phát triển nhanh chậm đến đâu. Kiểm tra bằng cách kiểm tra máu.
Sùi mào gà là một trong số 8 căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, mức độ nguy hại của nó đối với sức khỏe con người không thể coi nhẹ.
Sùi mào gà không những có thể lây truyền qua tiếp xúc tình dục mà còn có thể lây nhiễm qua tiếp xúc gián tiếp như: khăn tắm, bồn tắm, quần lót có chứa vi khuẩn…
Cũng có những trường hợp nhiễm bệnh ở các bộ phận khác của cơ thể ngoài cơ quan sinh dục như: quanh hậu môn, vòm họng, dưới nách, da đầu… Đặc biệt rất dễ lây nhiễm khi tiếp xúc mà trên niêm mạc da có các vết thương nhỏ.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Mùa mưa cảnh giác với dịch sốt xuất huyết
Sau khi bị muỗi vằn đốt, thời gian ủ bệnh từ 3 - 6 ngày, có thể kéo dài đến 15 ngày thì xuất hiện triệu chứng bệnh sốt xuất huyết.
Hiện tại, bệnh sốt xuất huyết chưa có thuốc đặc trị cũng như vắc-xin phòng ngừa, Do đó, việc cảnh giác với bệnh, nhất là vào mùa mưa, là việc làm không thể thiếu trong mỗi cá nhân và gia đình.
Sốt xuất huyết là bệnh được lây từ người sang người, qua vật trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes Aegypti. Trong dân gian gọi là muỗi vằn. Muỗi rất nhanh nhẹn, thường bay lượn quanh chỗ người lớn hay trẻ em sinh hoạt vui chơi, khi có thời cơ, sẵn sàng đáp xuống chích hút máu.
Muỗi hoạt động tìm mồi suốt ngày, nhưng thường hoạt động tích cực vào sáng sớm và chiều tối, khi không khí vừa mát mẻ vừa ấm áp, độ ẩm thích hợp và chỉ đậu nghỉ khi đã no máu hoặc vào ban đêm.
Muỗi thích trú đậu nơi có ánh sáng trung bình, không quá sáng cũng không quá tối, kín gió hay gió nhẹ, ấm áp, có độ ẩm thích hợp, thích đậu trên rìa mép mùng, mền, quần áo nhất là vải có màu tối đậm, có nhiều lông tơ mịn như vải len chẳng hạn, và cũng thích trú đậu trên quần áo đã mặc rồi có mùi mồ hôi chưa kịp giặt giũ.
Trong năm, muỗi phát triển mạnh nhất vào mùa mưa, theo ghi nhận các nhà dịch tễ học là 81,38% và mùa nắng là 18,62%.
Bệnh sốt xuất huyết Dengue do virút Dengue gây nên. Sau khi bị muỗi vằn đốt, người bệnh có thời gian ủ bệnh từ 3 - 6 ngày, có thể kéo dài đến 15 ngày thì xuất hiện triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết.
Người bệnh sốt cao đột ngột, mệt mỏi, nhức đầu, đau sau hốc mắt, đau cơ nhất là đau ở thắt lưng và đôi khi đau chân, thường kèm theo đau họng, buồn nôn, nôn mửa, đau vùng thượng vị và tiêu chảy.
Muỗi vằn - vật trung gian truyền bệnh
Ở trẻ em, sốt cao 39 - 400C, sốt liên tục trong 3 - 4 ngày, đau họng và đau bụng; người bệnh sau khi giảm sốt từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 8, thì xuất hiện xuất huyết nhẹ dưới dạng các chấm xuất huyết dưới da, nốt xuất huyết.
Sau giai đoạn này, xuất hiện ban dạng dát sẩn đa hình thái, đôi khi gây ngứa, đầu tiên ở thân mình và lan rộng theo hướng ly tâm đến các chi, mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân.
Ngoài ra, người bệnh còn bị sốc với mạch nhanh, nhẹ, huyết áp giảm hoặc không đo được, chân tay lạnh, bứt rứt... Kèm theo một số triệu chứng không đặc trưng như: chán ăn, đau cơ, đau khớp, đau bụng. Bệnh sốt xuất huyết hoàn toàn có khả năng dẫn đến trụy tim mạch, rất dễ gây ra tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời...
Chú trọng phòng ngừa: trong mùa mưa, mỗi cá nhân, mỗi gia đình cần nâng cao ý thức phòng bệnh sốt xuất huyết vì hiện tại chưa có thuốc đặc trị cũng như vắc-xin phòng ngừa.
Phòng bệnh chủ yếu là kiểm soát côn trùng trung gian truyền bệnh như: tránh muỗi đốt, diệt lăng quăng, diệt muỗi trưởng thành, theo nguyên tắc: không có lăng quăng, không muỗi, sẽ không có sốt xuất huyết.
Chúng ta phải luôn có ý thức dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch sẽ, thoáng mát, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng như gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…, thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi.
Cần ngủ màn kể cả ngày và đêm, mặc quần áo dài tay, không ngồi chơi chỗ tối, đuổi muỗi bằng đốt nhang muỗi, xịt muỗi hay kem thoa chống muỗi.
Một nghiên cứu vắc-xin phòng sốt xuất huyết đang được tiến hành, ở Đại học Mahidol (Thái Lan) với sự cộng tác củaWHO. Vắc-xin này tỏ ra an toàn và đang được đưa vào thử nghiệm trên lâm sàng.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Rửa tay bằng xà phòng - Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng, rửa tay được coi là liều vaccin tự chế, đơn giản, hiệu quả, dễ thực hiện, có thể cứu sống hàng triệu người. Chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới. Việc rửa tay cũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp tới 19-45%...
Bàn tay bẩn là nơi vi sinh vật gây bệnh tồn tại và phát triển. Qua bàn tay bẩn, cơ thể chúng ta, đặc biệt là trẻ em rất dễ bị nhiễm các bệnh: tiêu chảy, viêm phổi, tay - chân - miệng, nhiễm giun sán, cúm gia cầm và các bệnh truyền nhiễm khác. Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh, trong đó có rửa tay bằng xà phòng là biện pháp cơ bản nhất.
Rửa tay giúp trẻ phòng bệnh. Ảnh: TM
Theo PGS.TS. Nguyễn Huy Nga - Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), 80% bệnh tật hiện nay có liên quan đến việc người dân thiếu nước sạch, thiếu ý thức vệ sinh cá nhân, trong đó có việc người dân không có thói quen rửa tay bằng xà phòng... Thế nhưng, theo thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), tại Việt Nam chỉ có 12% người dân có thói quen rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi ăn, chỉ có 16% rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh.
Đây chính là nguyên nhân khiến người dân, đặc biệt là trẻ em dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn qua đường hô hấp và tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lỵ, tiêu chảy do Rotavirus, nhiễm giun sán, nhiễm cúm, bệnh tay - chân - miệng, nhiễm sởi... là những căn bệnh nguy hiểm mà con người có thể phòng ngừa một cách dễ dàng thông qua ý thức giữ vệ sinh cho đôi bàn tay. Theo ông Nga, việc rửa tay bằng xà phòng tưởng như chỉ là chuyện nhỏ, nhưng trên thực tế, thói quen này đã góp phần phòng tránh nhiều nguồn lây nhiễm bệnh hiệu quả, trong đó có bệnh tay - chân - miệng không chỉ giúp cho trẻ em mà còn cho cả người lớn.
ThS.BS. Định Thạc - BV Nhi đồng 1 - TP. Hồ Chí Minh cho biết, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng là một trong những cách tốt nhất để tránh bị bệnh và lây lan bệnh tật cho cơ thể. Các nghiên cứu cho thấy, bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh (tập trung số lượng lớn ở kẽ tay và kẽ móng tay) và dễ lây bệnh từ người sang người.
Rửa tay thường xuyên sạch sẽ đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, chính là nguyên nhân gây tử vong cho hàng triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Việc rửa tay cũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, giảm đáng kể tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp từ 19 - 45% và phòng ngừa rất hiệu quả căn bệnh tay - chân - miệng ở trẻ em.
Thế nhưng trên thực tế, thói quen rửa tay bằng xà phòng trong cộng đồng chưa cao, đặc biệt là rửa tay chưa đúng cách. Thông thường khi rửa tay, mọi người chỉ sử dụng một lượng nhỏ xà phòng, xát qua lòng bàn tay và rửa nhanh lại với nước. Hầu hết người dân không chú ý đến việc rửa sạch mu bàn tay, cũng như các kẽ tay và kẽ móng tay, nơi tập trung chủ yếu của các mầm bệnh và vi khuẩn gây hại.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia của WHO đưa ra và được Bộ Y tế khuyến cáo thực hiện, rửa tay bằng xà phòng thôi không đủ mà phải rửa đúng cách theo 6 bước thì mới đạt được hiệu quả cao trong việc diệt trừ vi khuẩn. “Vì vậy, việc tạo thói quen rửa tay bằng xà phòng trong cộng đồng nhằm giảm các bệnh và vì một thế hệ Việt Nam khỏe mạnh”- ông Nga nhấn mạnh.
6 bước rửa tay đúng cách
- Bước 1: Làm ướt 2 lòng bàn tay bằng nước. Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau.
- Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại.
- Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay.
- Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia.
- Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại.
- Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay.
Rửa tay thường xuyên sạch sẽ đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Khi gia đình có người cao tuổi mắc bệnh lao
Bệnh lao không từ một ai, nhưng tỉ lệ người cao tuổi (NCT) mắc lao thường cao hơn do đối tượng này có sức đề kháng kém và thường có thêm một số bệnh mạn tính.
Những gia đình có người đang điều trị lao cần quan tâm đến một số vấn đề về phương pháp điều trị và cách phòng tránh để không lây nhiễm cho những thành viên khác.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng tránh bệnh lao cần chú ý giữ gìn sức khỏe, bảo vệ đường hô hấp, tránh tiếp xúc với nguồn lây trực tiếp bằng cách đeo khẩu trang. Nên ăn uống và ngủ, nghỉ điều độ, tập thể dục thể thao ở mức độ thích hợp thường xuyên.
Khi thấy các triệu chứng nghi lao nên đến khám để phát hiện kịp thời bệnh lao và chữa trị sớm để chóng lành bệnh. Trong điều trị cần phải kiên trì uống thuốc trị lao đủ thời gian và kiểm tra X-quang phổi, xét nghiệm đờm, theo quy định.
Lao phổi là một bệnh khá phổ biến hiện nay. Tại nước ta mỗi năm có thêm khoảng 130.000 người bị lao và có 20.000 - 30.000 người chết vì lao.
Tỉ lệ lao phổi ở NCT khá cao khoảng 25 - 30% nghĩa là cứ 100 NCT thì có 25 - 30 người bị mắc bệnh lao. Lao phổi ở NCT thường đi kèm theo những bệnh khác của tuổi già làm cho việc phát hiện và điều trị sớm gặp nhiều khó khăn.
NCT sức đề kháng giảm nên các vi trùng lao bị nhiễm từ lúc trẻ sau nhiều chục năm ở trạng thái ngủ nhân một cơ hội thuận lợi hoạt động trở lại gây ra bệnh lao. Do bị nhiều bệnh mãn tính nên thường xuyên đến các bệnh viện, trung tâm y tế, nên cũng thường tiếp xúc với các bệnh nhân khác, do đó cũng dễ bị lây nhiễm.
Biểu hiện lao phổi ở NCT thường âm thầm, các triệu chứng thường gặp ở bệnh lao như: sụt cân, mệt mỏi, sốt về chiều, thường bị che lấp bởi các tình trạng khác của người già, sốt ít khi cao và người bệnh có thể không nhận ra, cũng có thể gặp tình trạng đổ mồ hôi về đêm và ho ra máu thì ít khi gặp.
Chẩn đoán cũng gặp nhiều khó khăn. X-quang phổi không điển hình do chồng chéo nhiều bệnh phổi mãn tính khác ở NCT.
NCT có thể kèm theo các bệnh làm cho lao phổi nặng thêm và khó điều trị. Người bệnh đái tháo đường nếu không được điều trị tốt sẽ dễ bị bệnh lao và để điều trị lao tốt phải giữ đường huyết ở mức ổn định thường xuyên. Bởi vì đường trong máu cao là môi trường tốt cho vi trùng lao phát triển.
Triệu chứng bệnh lao phổi
NCT thường hay đau khớp do đó thường dùng các loại thuốc giảm đau kháng viêm. Nếu dùng lâu dài loại thuốc có chứa corticoid như: prednisolon, dexamethason, hydrocortison... sẽ bị giảm sức đề kháng nên dễ bị nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm lao và nhiễm nấm.
Vì vậy, không nên tự ý dùng các loại thuốc corticoid. Khi sử dụng corticoid phải thận trọng theo dõi các phản ứng có hại và nhanh chóng báo cho thầy thuốc biết.
Trong quá trình điều trị bệnh lao phổi ở NCT cần lưu ý: bệnh lao phổi có tính lây lan cao, vi trùng trong đờm càng nhiều thì tính lây lan càng cao. Do vậy, trong vòng 3 tháng đầu điều trị, người bệnh cần chủ động phòng tránh lây lan cho người thân bằng cách hạn chế tiếp xúc thân mật, nhất là với trẻ em vì trẻ rất dễ bị nhiễm vi trùng lao.
Gia đình người thân cũng cần giải thích động viên đồng thời khéo léo giúp người bệnh không mặc cảm vì sinh hoạt tạm thời cách ly, tình trạng này sẽ giảm dần sau khoảng 2 - 3 tháng điều trị thuốc kháng lao. Khi vi trùng lao trong đờm không còn nữa thì bệnh nhân có thể sinh hoạt lại bình thường với gia đình...
Hiện nay có 5 loại thuốc thường được dùng trong điều trị bệnh lao làStreptomycin, Rifapicin, Isoniazide, Pyrazamid và Ethambutol. Tùy theo tình trạng bệnh mà người bị lao sẽ được dùng phối hợp các loại thuốc này theo công thức của chương trình chống lao quốc gia.
Nếu bệnh nhân dùng thuốc không đủ liều, hoặc thường xuyên quên uống thuốc, uống không đủ thời gian sẽ dẫn đến hiện tượng bị kháng thuốc và không còn thuốc để điều trị bệnh này. Ngoài việc dùng thuốc, người bệnh lao cần nghỉ ngơi nhiều, hạn chế căng thẳng về tinh thần, tránh thức khuya dậy sớm
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015
Tổng quan về bệnh dại
BỆNH DẠI LÀ MỘT BỆNH TRUYỀN NHIỄM CẤP TÍNH DO VIRUT DẠI GÂY RA, BỆNH CHỦ YẾU CỦA SÚC VẬT (CHÓ, MÈO...) LÂY SANG NGƯỜI QUA ĐƯỜNG DA VÀ NIÊM MẠC.
1. Đại cương
1. Định nghĩa:
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut dại gây ra, bệnh chủ yếu của súc vật (chó, mèo...) lây sang người qua đường da và niêm mạc.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh chủ yếu là trạng thái kích thích tâm thần vận động hoặc một hội chứng liệt kiểu Landry. Khi phát bệnh gây tử vong 100%.
2. Mầm bệnh:
- Là virut dại, thuộc họ Rhabdovirus, có cấu tạo ARN và có bao ngoài.
- Pasteur chia vi rut dại ra làm 2 loại:
+ Virut dại đường phố: có độc lực mạnh, gây bệnh dại ở súc vật và người.
+ Virut dại cố định: là virut dại được nuôi cấy và thích ứng trong phòng thí nghiệm, đã giảm, mất độc lực và không gây bệnh dại. Được dùng để điều chế vacxin vì có cùng kháng nguyên với virut dại đường phố.
- Sức đề kháng:
+ Có sức đề kháng kém: Bị bất hoạt nhanh chóng bởi xà phòng, Ether, cồn Iôt, ở 60oC chết trong 5 phút, ở 100oC chết trong 1 phút.
+ Tuy vậy, ở nhiệt độ phòng: virut có thể sống được từ 1 - 2 tuần. Vì vậy, đồ vật dính nước bọt chó dại, người bị dại được coi là nguy hiểm.
3. Nguồn bệnh:
- Là các loài dã thú bị dại như: Chó sói, chồn, cáo... và cả loại dơi Vampire hút máu bò ở Nam Mỹ.
- Là gia súc bị dại: Phổ biến nhất là chó, mèo và có thể là lừa, ngựa, bò, cừu, lợn...
4. Đường lây:
- Qua da và niêm mạc: Virút dại có trong nước bọt của súc vật bị dại không bao giờ qua được da lành. Rất hiếm gặp mắc bệnh dại qua đồ vật trung gian bị dính nước bọt chó dại, người bị dại... mà trên người lành sẵn có vết thương...
- Qua đường hô hấp: Gặp ở Nam Mỹ, khi người vào hang động có loài dơi mang virut dại cư trú.
5. Sức thụ bệnh và miễn dịch:
- Sức thụ bệnh: tất cả các loài động vật máu nóng như người, gia súc, dã thú (đặc biệt động vật ăn thịt) đều có thể bị bệnh dại.
- Sau khi phát bệnh ở người tử vong 100%.
- Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.
2. Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý:
1. Cơ chế bệnh sinh:
Từ vết thương (do bị cắn, cào, liếm) virut theo đường dây thần kinh ngoại vi lên não gây tổn thương các tế bào thần kinh trung ương, đặc biệt là vùng sừng Amon, hành não.
Virut có trong nước bọt chó dại, 10 ngày trước khi phát bệnh.
Bệnh cảnh lâm sàng là do tình trạng não viêm.
2. Giải phẫu bệnh:
Cơ quan tổn thương chính trong bệnh dại là não, tuỷ. Với tính chất não viêm từng chỗ, tổn thương cả chất xám lẫn chất trắng. Vùng não hay bị tổn thương là: Sừng Amon, vỏ não, hành não.
3. Lâm sàng
1. Thời kỳ ủ bệnh:
Từ 10 ngày đến trên 1 năm. Trung bình từ 20 ngày đến 60 ngày. Nếu số vết cắn nhiều, sâu và vị trí cắn ở gần thần kinh trung ương và giầu mạng lưới thần kinh (đầu, mặt, cổ, bàn tay) thì thời kỳ ủ bệnh sẽ ngắn.
Trước khi phát bệnh có thể có tiền triệu: lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn.
2. Thời kỳ toàn phát: Có 2 thể bệnh sau:
3.2.1. Thể hung dữ hoặc co cứng: Biểu hiện bệnh là một tình trạng kích thích tâm thần vận động là chủ yếu.
- Khi thì bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong.
- Khi thì ở trạng thái kích thích vận động là chủ yếu với biểu hiện: co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước.
Khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau.
Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ vào các giác quan như: luồng gió nhẹ, mùi vị, ánh sáng.v.v..
Nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục.
Sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, xuất hiện nhiều ảo giác.
Các triệu chứng nặng dần lên và tử vong trung bình sau 3 đến 5 ngày do ngừng hô hấp và ngừng tim.
3.2.2. Thể liệt: ít gặp hơn thể trên. Thường gặp ở người bị chó dại cắn đã tiêm vacxin nhưng muộn. Thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.
Lúc đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt leo kiểu Landry: Đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não thì xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng hô hấp và tuần hoàn. Tử vong sau 4 đến 12 ngày.
4. Chẩn đoán
1. Chẩn đoán xác định: Dựa vào các yếu tố sau:
- Có tiền sử bị súc vật (chó, mèo...) cắn, cào, liếm hoặc làm thịt các súc vật có biểu hiện bị dại như: chó, mèo đột ngột trở nên hung dữ không có lý do, cắn xé lung tung, cắn nhiều người hoặc thay đổi tính nết như lấm lét, ủ dột, nằm xó tối.
- Các triệu chứng lâm sàng của bệnh dại
- Xét nghiệm:
+ Xác định virut dại từ các bệnh phẩm: nước mắt, nước bọt, dịch não tuỷ, mảnh sinh thiết não, da bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Trả lời kết quả sau 2 giờ.
+ Phân lập virút dại từ các bệnh phẩm trên bằng phương pháp nuôi cấy tế bào. Trả lời trong 24 giờ. Thực tế, cả hai phương pháp trên ít được áp dụng và khó thực hiện.
+ Nếu bệnh nhân tử vong: Tìm tiểu thể Negri trong não ở vùng sừng Amon và các tổn thương viêm não không đặc hiệu bằng kính hiển vi điện tử.
2. Chẩn đoán phân biệt:
4.2.1. Thể hung dữ phải chẩn đoán phân biệt với:
- Chứng ngộ độc rượu cấp: cũng đột ngột xuất hiện điên cùng với nhiều ảo giác. Nhưng khác dại là không có co thắt họng, không rối loạn hô hấp. Cơn điên cuồng liên tục chứ không từng cơn như bệnh dại. Có tiền sử nghiện rượu. Không có tiền sử bị chó, mèo cẵn.
- Loạn tâm thần cấp: cũng kích động đập phá, la hét liên tục nhưng không có tiền sử bị chó cắn... Nếu bị chó cắn thì rất khó phân biệt, phải điều trị thử và theo dõi tiến triển để phân biệt.
4.2.2. Thể co cứng có sợ nước cần chẩn đoán phân biệt với:
- Viêm não do các virút khác: Không có tiền sử bị chó, mèo cắn, cào.
- Uốn ván thể sợ nước: Có dấu hiệu cứng hàm đầu tiên sau mới xuất hiện co thắt họng. Co cứng toàn bộ cơ liên tục. Không nhất thời như bệnh dại.
- Bệnh tưởng bị bệnh dại sau khi bị chó thường cắn, gặp ở người lo sợ quá mức. Bệnh nhân cũng sợ nước nhưng không sợ gió. Dùng thuốc an thần có thể bớt. Đôi khi cũng phải theo dõi một thời gian mới phân định được.
4.2.3. Dại thể liệt cần chẩn đoán phân biệt với:
- Bệnh bại liệt ở trẻ em: Thường nhức đầu có sốt cao, viêm đường hô hấp. Rối loạn tiêu hóa và đau cơ. Khi xuất hiện liệt thì có tính chất: Không có thứ tự nhất định, liệt nhẽo, không đối xứng, thường liệt ở gốc chi - không có tiền sử bị chó cắn, mèo cào.
- Viêm não, tuỷ, viêm đa rễ và dây thần kinh sau tiêm vacxin, chế từ tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành (cừu, dê...). Xuất hiện liệt từ 1 đến 4 tuần sau tiêm mũi đầu. Điều trị bằng Corticoid có hy vọng khỏi được.
- Viêm tuỷ leo thể Landry do các nguyên nhân khác.
5. Điều trị - Dự phòng
1. Điều trị tại chỗ vết thương sau khi bị súc vật cắn:
Sau khi bị súc vật (chó, mèo...) cắn, cào phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng; sau đó rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát trùng vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn, cồn iôt, Ete... Tránh khâu vết thương sớm trừ vết thương ở mặt. Có thể tiêm phòng uốn ván và cho kháng sinh.
2. Điều trị huyết thanh kháng dại ( serum anti-rabies ):
Chỉ dùng cho các trường hợp bị cắn nặng: như vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con vật có biểu hiện dại.
Yêu cầu: - Tiêm càng sơm sau khi bị cắn càng có hiệu quả tốt.
- Tiêm trước khi tiêm vacxin
Cách tiêm: Có 2 loại huyết thanh kháng dại:
- Huyết thanh kháng dại khác chủng lấy từ ngựa đã miễn dịch cao. Tiêm miễn dịch 1 lần duy nhất 40 UI/kg nặng. Có thể tiêm quanh vết cắn.
Để tránh tai biến sốc phản vệ có thể tiêm theo phương pháp Besredka và dùng thuốc kháng Histamin tổng hợp và chỉ tiêm ở các trung tâm chống dại.
- Globulin miễn dịch, đồng chủng, đặc hiệu kháng dại. Tiêm bắp, vị trí ở mông một liều duy nhất là 20 UI/kg nặng. Ưu điểm: Không có tai biến, chịu đựng tốt, nhưng có nhược điểm là giá thuốc cao.
3. Tiêm vacxin:
3.1. Chỉ định:
- Khi bị liếm, trên da có vết thương, bị cào, cắn bởi súc vật bị dại hoặc nghi ngờ bị dại mà con vật ấy đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để khẳng định bị dại hay không), hoặc đã trốn mất hoặc bị động vật hoang dã cắn.
- Khi bị súc vật có vẻ khỏe mạnh cắn, phải theo dõi súc vật trong vòng 10 ngày. Nếu thấy có bất kỳ biểu hiện ốm hoặc thay đổi tính tình cần tiêm ngay. Còn nếu vẫn khỏe thì không cần tiêm.
3.2. Một số loại vacxin và cách tiêm:
-Vacxin cổ điển của Pasteur: được chế từ virut cố định, nuôi cấy trong tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành được làm giảm độc (như vacxin Fermi hoặc Hemip) hoặc đã bị giết chết (vacxin Semple). Loại này phải tiêm nhiều mũi và hay có tai biến thần kinh, nên ngày nay rất ít được dùng.
- Vacxin Fuenzalida: được chế từ virut cố định cấy ở não chuột nhắt trắng mới đẻ được bất hoạt bằng b Propiolacton. Tiêm 6 mũi trong da cách nhau 1 ngày với liều 0,2 ml/mũi cho người lớn và 0,1 ml/1mũi cho trẻ con. Đây là vaxin của Việt Nam. Vacxin này có thể gây ra tai biến:
+ Dị ứng: tại nơi tiêm: Sần, quầng, ngứa. Toàn thân: Sốt, phát ban. Điều trị bằng thuốc kháng Histamin.
+ Tai biến thần kinh: Viêm dây thần kinh, viêm đa rễ và dây thần kinh, viêm tuỷ, viêm não tuỷ. Loại tai biến này nặng nhưng ít gặp; điều trị bằng Corticoid.
- Vacxin của Viện Merieux (Pháp): được chế từ virut cấy trên tế bào lưỡng bội của người (tiêm rất an toàn) được bất hoạt bằng b Propiolacton. Mỗi mũi tiêm: 1ml, tiêm dưới da (không được tiêm bắp). Cách tiêm:
+ Khi bị cắn nhẹ và vừa: Tiêm 5 mũi vào các ngày (N): N0, N3, N7, N14, N30 hoặc N0 tiêm 2 mũi ( sáng-chiều ), N7, N21 (4 mũi ngắn) hơn.
+ Khi bị cắn nặng: N0 tiêm huyết thanh kháng dại, sau đó tiêm vacxin N0, N3, N7, N14 và N30 ; hoặc N0x2, N7, N21.
- Vacxin của Viện Pasteur (Pháp): được chế từ virut cố định cấy trên tế bào thận của bào thai bò, được bất hoạt bằng b Propiolacton, tiêm rất an toàn. Mỗi mũi tiêm 2 ml dưới da (không tiêm bắp). Ngày tiêm: giống như vacxin của Merieux.
4. Điều trị khi đã lên cơn dại:
- Hiện nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Chỉ điều trị triệu chứng: An thần, để ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.
- Bệnh dại được coi là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc phải mặc đầy đủ trang bị (mũ, mạng, quần áo, găng tay, ủng), rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát trùng bằng cồn, Ete. Các đồ vật (vải, dụng cụ riêng của bệnh nhân...) cần đốt huỷ. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà... cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử trùng.
5. Phòng bệnh:
- Tiêm vacxin phòng dại bắt buộc cho gia súc, đặc biệt là chó, mèo.
- Tiêm vacxin phòng dại cho một số người có nghề nghiệp tiếp xúc nhiều với súc vật như: Thú y, chăn nuôi gia súc ( chó, mèo...) chuyên nghiệp...
1. Định nghĩa:
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut dại gây ra, bệnh chủ yếu của súc vật (chó, mèo...) lây sang người qua đường da và niêm mạc.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh chủ yếu là trạng thái kích thích tâm thần vận động hoặc một hội chứng liệt kiểu Landry. Khi phát bệnh gây tử vong 100%.
2. Mầm bệnh:
- Là virut dại, thuộc họ Rhabdovirus, có cấu tạo ARN và có bao ngoài.
- Pasteur chia vi rut dại ra làm 2 loại:
+ Virut dại đường phố: có độc lực mạnh, gây bệnh dại ở súc vật và người.
+ Virut dại cố định: là virut dại được nuôi cấy và thích ứng trong phòng thí nghiệm, đã giảm, mất độc lực và không gây bệnh dại. Được dùng để điều chế vacxin vì có cùng kháng nguyên với virut dại đường phố.
- Sức đề kháng:
+ Có sức đề kháng kém: Bị bất hoạt nhanh chóng bởi xà phòng, Ether, cồn Iôt, ở 60oC chết trong 5 phút, ở 100oC chết trong 1 phút.
+ Tuy vậy, ở nhiệt độ phòng: virut có thể sống được từ 1 - 2 tuần. Vì vậy, đồ vật dính nước bọt chó dại, người bị dại được coi là nguy hiểm.
3. Nguồn bệnh:
- Là các loài dã thú bị dại như: Chó sói, chồn, cáo... và cả loại dơi Vampire hút máu bò ở Nam Mỹ.
- Là gia súc bị dại: Phổ biến nhất là chó, mèo và có thể là lừa, ngựa, bò, cừu, lợn...
4. Đường lây:
- Qua da và niêm mạc: Virút dại có trong nước bọt của súc vật bị dại không bao giờ qua được da lành. Rất hiếm gặp mắc bệnh dại qua đồ vật trung gian bị dính nước bọt chó dại, người bị dại... mà trên người lành sẵn có vết thương...
- Qua đường hô hấp: Gặp ở Nam Mỹ, khi người vào hang động có loài dơi mang virut dại cư trú.
5. Sức thụ bệnh và miễn dịch:
- Sức thụ bệnh: tất cả các loài động vật máu nóng như người, gia súc, dã thú (đặc biệt động vật ăn thịt) đều có thể bị bệnh dại.
- Sau khi phát bệnh ở người tử vong 100%.
- Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều. Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng. Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.
2. Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý:
1. Cơ chế bệnh sinh:
Từ vết thương (do bị cắn, cào, liếm) virut theo đường dây thần kinh ngoại vi lên não gây tổn thương các tế bào thần kinh trung ương, đặc biệt là vùng sừng Amon, hành não.
Virut có trong nước bọt chó dại, 10 ngày trước khi phát bệnh.
Bệnh cảnh lâm sàng là do tình trạng não viêm.
2. Giải phẫu bệnh:
Cơ quan tổn thương chính trong bệnh dại là não, tuỷ. Với tính chất não viêm từng chỗ, tổn thương cả chất xám lẫn chất trắng. Vùng não hay bị tổn thương là: Sừng Amon, vỏ não, hành não.
3. Lâm sàng
1. Thời kỳ ủ bệnh:
Từ 10 ngày đến trên 1 năm. Trung bình từ 20 ngày đến 60 ngày. Nếu số vết cắn nhiều, sâu và vị trí cắn ở gần thần kinh trung ương và giầu mạng lưới thần kinh (đầu, mặt, cổ, bàn tay) thì thời kỳ ủ bệnh sẽ ngắn.
Trước khi phát bệnh có thể có tiền triệu: lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn.
2. Thời kỳ toàn phát: Có 2 thể bệnh sau:
3.2.1. Thể hung dữ hoặc co cứng: Biểu hiện bệnh là một tình trạng kích thích tâm thần vận động là chủ yếu.
- Khi thì bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong.
- Khi thì ở trạng thái kích thích vận động là chủ yếu với biểu hiện: co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước.
Khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau.
Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ vào các giác quan như: luồng gió nhẹ, mùi vị, ánh sáng.v.v..
Nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục.
Sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, xuất hiện nhiều ảo giác.
Các triệu chứng nặng dần lên và tử vong trung bình sau 3 đến 5 ngày do ngừng hô hấp và ngừng tim.
3.2.2. Thể liệt: ít gặp hơn thể trên. Thường gặp ở người bị chó dại cắn đã tiêm vacxin nhưng muộn. Thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.
Lúc đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt leo kiểu Landry: Đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên. Khi tổn thương tới hành não thì xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng hô hấp và tuần hoàn. Tử vong sau 4 đến 12 ngày.
4. Chẩn đoán
1. Chẩn đoán xác định: Dựa vào các yếu tố sau:
- Có tiền sử bị súc vật (chó, mèo...) cắn, cào, liếm hoặc làm thịt các súc vật có biểu hiện bị dại như: chó, mèo đột ngột trở nên hung dữ không có lý do, cắn xé lung tung, cắn nhiều người hoặc thay đổi tính nết như lấm lét, ủ dột, nằm xó tối.
- Các triệu chứng lâm sàng của bệnh dại
- Xét nghiệm:
+ Xác định virut dại từ các bệnh phẩm: nước mắt, nước bọt, dịch não tuỷ, mảnh sinh thiết não, da bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Trả lời kết quả sau 2 giờ.
+ Phân lập virút dại từ các bệnh phẩm trên bằng phương pháp nuôi cấy tế bào. Trả lời trong 24 giờ. Thực tế, cả hai phương pháp trên ít được áp dụng và khó thực hiện.
+ Nếu bệnh nhân tử vong: Tìm tiểu thể Negri trong não ở vùng sừng Amon và các tổn thương viêm não không đặc hiệu bằng kính hiển vi điện tử.
2. Chẩn đoán phân biệt:
4.2.1. Thể hung dữ phải chẩn đoán phân biệt với:
- Chứng ngộ độc rượu cấp: cũng đột ngột xuất hiện điên cùng với nhiều ảo giác. Nhưng khác dại là không có co thắt họng, không rối loạn hô hấp. Cơn điên cuồng liên tục chứ không từng cơn như bệnh dại. Có tiền sử nghiện rượu. Không có tiền sử bị chó, mèo cẵn.
- Loạn tâm thần cấp: cũng kích động đập phá, la hét liên tục nhưng không có tiền sử bị chó cắn... Nếu bị chó cắn thì rất khó phân biệt, phải điều trị thử và theo dõi tiến triển để phân biệt.
4.2.2. Thể co cứng có sợ nước cần chẩn đoán phân biệt với:
- Viêm não do các virút khác: Không có tiền sử bị chó, mèo cắn, cào.
- Uốn ván thể sợ nước: Có dấu hiệu cứng hàm đầu tiên sau mới xuất hiện co thắt họng. Co cứng toàn bộ cơ liên tục. Không nhất thời như bệnh dại.
- Bệnh tưởng bị bệnh dại sau khi bị chó thường cắn, gặp ở người lo sợ quá mức. Bệnh nhân cũng sợ nước nhưng không sợ gió. Dùng thuốc an thần có thể bớt. Đôi khi cũng phải theo dõi một thời gian mới phân định được.
4.2.3. Dại thể liệt cần chẩn đoán phân biệt với:
- Bệnh bại liệt ở trẻ em: Thường nhức đầu có sốt cao, viêm đường hô hấp. Rối loạn tiêu hóa và đau cơ. Khi xuất hiện liệt thì có tính chất: Không có thứ tự nhất định, liệt nhẽo, không đối xứng, thường liệt ở gốc chi - không có tiền sử bị chó cắn, mèo cào.
- Viêm não, tuỷ, viêm đa rễ và dây thần kinh sau tiêm vacxin, chế từ tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành (cừu, dê...). Xuất hiện liệt từ 1 đến 4 tuần sau tiêm mũi đầu. Điều trị bằng Corticoid có hy vọng khỏi được.
- Viêm tuỷ leo thể Landry do các nguyên nhân khác.
5. Điều trị - Dự phòng
1. Điều trị tại chỗ vết thương sau khi bị súc vật cắn:
Sau khi bị súc vật (chó, mèo...) cắn, cào phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước xà phòng; sau đó rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát trùng vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn, cồn iôt, Ete... Tránh khâu vết thương sớm trừ vết thương ở mặt. Có thể tiêm phòng uốn ván và cho kháng sinh.
2. Điều trị huyết thanh kháng dại ( serum anti-rabies ):
Chỉ dùng cho các trường hợp bị cắn nặng: như vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con vật có biểu hiện dại.
Yêu cầu: - Tiêm càng sơm sau khi bị cắn càng có hiệu quả tốt.
- Tiêm trước khi tiêm vacxin
Cách tiêm: Có 2 loại huyết thanh kháng dại:
- Huyết thanh kháng dại khác chủng lấy từ ngựa đã miễn dịch cao. Tiêm miễn dịch 1 lần duy nhất 40 UI/kg nặng. Có thể tiêm quanh vết cắn.
Để tránh tai biến sốc phản vệ có thể tiêm theo phương pháp Besredka và dùng thuốc kháng Histamin tổng hợp và chỉ tiêm ở các trung tâm chống dại.
- Globulin miễn dịch, đồng chủng, đặc hiệu kháng dại. Tiêm bắp, vị trí ở mông một liều duy nhất là 20 UI/kg nặng. Ưu điểm: Không có tai biến, chịu đựng tốt, nhưng có nhược điểm là giá thuốc cao.
3. Tiêm vacxin:
3.1. Chỉ định:
- Khi bị liếm, trên da có vết thương, bị cào, cắn bởi súc vật bị dại hoặc nghi ngờ bị dại mà con vật ấy đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để khẳng định bị dại hay không), hoặc đã trốn mất hoặc bị động vật hoang dã cắn.
- Khi bị súc vật có vẻ khỏe mạnh cắn, phải theo dõi súc vật trong vòng 10 ngày. Nếu thấy có bất kỳ biểu hiện ốm hoặc thay đổi tính tình cần tiêm ngay. Còn nếu vẫn khỏe thì không cần tiêm.
3.2. Một số loại vacxin và cách tiêm:
-Vacxin cổ điển của Pasteur: được chế từ virut cố định, nuôi cấy trong tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành được làm giảm độc (như vacxin Fermi hoặc Hemip) hoặc đã bị giết chết (vacxin Semple). Loại này phải tiêm nhiều mũi và hay có tai biến thần kinh, nên ngày nay rất ít được dùng.
- Vacxin Fuenzalida: được chế từ virut cố định cấy ở não chuột nhắt trắng mới đẻ được bất hoạt bằng b Propiolacton. Tiêm 6 mũi trong da cách nhau 1 ngày với liều 0,2 ml/mũi cho người lớn và 0,1 ml/1mũi cho trẻ con. Đây là vaxin của Việt Nam. Vacxin này có thể gây ra tai biến:
+ Dị ứng: tại nơi tiêm: Sần, quầng, ngứa. Toàn thân: Sốt, phát ban. Điều trị bằng thuốc kháng Histamin.
+ Tai biến thần kinh: Viêm dây thần kinh, viêm đa rễ và dây thần kinh, viêm tuỷ, viêm não tuỷ. Loại tai biến này nặng nhưng ít gặp; điều trị bằng Corticoid.
- Vacxin của Viện Merieux (Pháp): được chế từ virut cấy trên tế bào lưỡng bội của người (tiêm rất an toàn) được bất hoạt bằng b Propiolacton. Mỗi mũi tiêm: 1ml, tiêm dưới da (không được tiêm bắp). Cách tiêm:
+ Khi bị cắn nhẹ và vừa: Tiêm 5 mũi vào các ngày (N): N0, N3, N7, N14, N30 hoặc N0 tiêm 2 mũi ( sáng-chiều ), N7, N21 (4 mũi ngắn) hơn.
+ Khi bị cắn nặng: N0 tiêm huyết thanh kháng dại, sau đó tiêm vacxin N0, N3, N7, N14 và N30 ; hoặc N0x2, N7, N21.
- Vacxin của Viện Pasteur (Pháp): được chế từ virut cố định cấy trên tế bào thận của bào thai bò, được bất hoạt bằng b Propiolacton, tiêm rất an toàn. Mỗi mũi tiêm 2 ml dưới da (không tiêm bắp). Ngày tiêm: giống như vacxin của Merieux.
4. Điều trị khi đã lên cơn dại:
- Hiện nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại. Chỉ điều trị triệu chứng: An thần, để ở nơi yên tĩnh, riêng biệt.
- Bệnh dại được coi là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc phải mặc đầy đủ trang bị (mũ, mạng, quần áo, găng tay, ủng), rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát trùng bằng cồn, Ete. Các đồ vật (vải, dụng cụ riêng của bệnh nhân...) cần đốt huỷ. Các đồ sắt, giường, tủ, sàn nhà... cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử trùng.
5. Phòng bệnh:
- Tiêm vacxin phòng dại bắt buộc cho gia súc, đặc biệt là chó, mèo.
- Tiêm vacxin phòng dại cho một số người có nghề nghiệp tiếp xúc nhiều với súc vật như: Thú y, chăn nuôi gia súc ( chó, mèo...) chuyên nghiệp...
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317


Chủ Nhật, tháng 10 18, 2015
doanh nhan